Phần I - Đoạn I - Chương 2 – Mục 3

 

Mục 3

Thánh Kinh

 

I. ĐỨC KI-TÔ - LỜI DUY NHẤT CỦA THÁNH KINH

101  Để mặc khải chính ḿnh cho loài người, Thiên Chúa đă đoái thương dùng ngôn ngữ loài người mà nói với ho <139): "Lời của Thiên Chúa, diễn đạt bằng ngôn ngữ nhân loại, trơ<150) nên giống tiếng nói loài người, cũng như khi xưa Ngôi Lời của Cha hằng hữu đă trở nên giống như con người khi mặc lấy xác phàm yếu đuối của chúng ta" ( DV 13).

102 (65, 2763)  Qua tất cả các lời ở trong Thánh Kinh, Thiên Chúa chỉ nói có một Lời là Ngôi Lời duy nhất, trong Người, Thiên Chúa nói hết về ḿnh cho nhân loại (Dt 1, 1-3) :

(426-429)  Anh em hăy nhớ rằng Lời duy nhất của Thiên Chúa được trải dài trong toàn bộ Thánh Kinh, chính Ngôi Lời duy nhất vang trên môi miệng củatất cả các tác giả Thánh Kinh. V́ chính Người, ngay từ đầu là Thiên Chúa ở bên Thiên Chúa, chẳng cần đến chữ với lời, bởi Người không lệ thuộc vào thời gian ( Thánh Âu Tinh, Tv 103, 4, 1).

103 (1100, 1184 1378)  lư do đó, Hội Thánh luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Ḿnh Thánh Chúa. Hội Thánh không ngừng lấy Bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Thiên Chúa và Ḿnh Thánh Chúa

Ki-tô để ban phát cho các tín hữu ( x. DV 21)

104  Trong Thánh Kinh, Hội Thánh không ngừng t́m được lương thực và sức mạnh (x. DV 24), v́ nơi đó, Hội Thánh không chỉ đón nhận một lời phàm nhân, nhưng thực sự là Lời của Thiên Chúa( 1Th 2, 13). "Thật vậy, trong các Sách Thánh, Chúa Cha, Đấng ngự trên trời, âu yếm đến với con cái của Người và đối thoại với họ" (DV 21).

II. LINH HỨNG VÀ CHÂN LƯ THÁNH KINH

105  Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh "Những ǵ Thiên Chúa mặc khải mà Thánh Kinh chứa đựng và tŕnh bày, đều được viết ra dưới sự linh hứng của Thánh Thần". "Hội Thánh, Mẹ chúng ta, nhờ đức tin tông truyền, xác nhận rằng toàn bộ Cựu Ước cũng như Tân Ước, với tất cả các thành phần đều là Sách Thánh, và được ghi vào bản chính lục của Thánh Kinh, bởi lẽ được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần nên tác giả các sách ấy là chính Thiên Chúa và chúng được lưu truyền cho Hội Thánh với danh nghĩa như vậy"(DV 11).

106  Thiên Chúa đă linh hứng cho các tác giả nhân loại viết các Sách Thánh. "Để soạn các Sách Thánh đó, Thiên Chúa đă chọn những con người và dùng họ với đầy đủ các khả năng và phương tiện của họ, để khi chính Người hành động trong họ và qua họ, họ viết ra như những tác giả đích thực tất cả những ǵ Chúa muốn, và chỉ viết những điều đó thôi" (DV 11).

107 (702)  Các sách được linh hứng giảng dạy sự thật. "Vậy bởi phải xem mọi lời các tác giả được linh hứng, c̣n gọi là các Thánh Kư viết ra, là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lư mà Thiên Chúa đă muốn Thánh Kinh ghi lại để cứu độ chúng ta" (DV 11).

108  Tuy nhiên, đức tin Ki-tô giáo không phải là "đạo thờ Sách, "nhưng là đạo do "Lời" Thiên Chúa, " không phải một lời được viết ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể và hằng sống" (Thánh Bê-na-đô, bài giảng về kẻ được sai đi 4, 11). Để các lời của Sách Thánh không chỉ là văn tự chết, Đức Ki-tô, Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa hằng sống, nhờ Thánh Thần "mở trí cho chúng ta hiểu được Thánh Kinh"( Lc 24, 45).

III. CHÚA THÁNH THẦN, ĐẤNG GIẢI NGHĨA THÁNH KINH

109   Trong Thánh Kinh , Thiên Chúa nói với con người theo cách thức loài người. Vậy để giải nghĩa Thánh Kinh cho đúng, phải cẩn thận t́m hiểu điều các thánh kư thật sự có ư tŕnh bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ( x. DV 12, 1).

110  Để khám phá ư định của các Thánh Kư , phải xét đến thời đại và văn hoá của họ, các "thể văn" thông dụng thời bấy giờ, cách thức cảm nghĩ, diễn tả, và tường thuật thịnh hành thời của họ. "V́ chân lư được tŕnh bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi ca... hoặc những thể loại khác"(DV 12, 2).

111 Thánh Kinh được linh hứng, nên c̣n một nguyên tắc khác để giải nghĩa cho đúng. Nguyên tắc này không kém quan trọng so với nguyên tắc trên và không có nó th́ Thánh Kinh chỉ là văn tự chết : "Thánh Kinh đă được viết ra bởi Chúa Thánh Thần nên cũng phải được đọc và giải thích trong Chúa Thánh Thần" (DV 12, 3). Công đồng Va-ti-ca-nô II đưa ra ba tiêu chuẩn để giải thích Thánh Kinh theo Thánh Thần, Đấng đă linh hứng (DV 12, 3).

112 (128 368)

 1 - Trước hết, phải hết sức chú ư đến "nội dung và tính thống nhất của toàn bộ Thánh Kinh " . Các Sách Thánh, dù có khác biệt nhau mấy đi chăng nữa, vẫn là một do tính duy nhất của chương tŕnh Thiên Chúa mà Đức Ki-tô Giê-su là trung tâm điểm và là trái tim, được rộng mở từ cuộc Vượt Qua của Người (x. Lc 24, 25-27. 44-46).

Trái tim ( x. Tv 22, 15)Đức Ki-tô chỉ Thánh Kinh, và Thánh Kinh giúp ta hiểu rơ trái tim Người. Trước cuộc khổ nạn, trái tim này c̣n đóng kín, v́ Thánh Kinh c̣n tối nghĩa. Nhưng sau cuộc khổ nạn, Thánh Kinh đă được mở ra, v́ từ nay những ai hiểu được cuộc khổ nạn sẽ biết suy xét và hiểu được phải giải nghĩa các lời ngôn sứ như thế nào ( Thánh Tô-ma Aquinô. Tv 21, 11).

113 (81)  

2* Kế đến, phải đọc Thánh Kinh trong" Truyền thống sống động của toàn thể Hội Thánh". Theo một châm ngôn của các giáo phụ Thánh Kinh pha<150)i được đọc chủ yếu trong con tim Hội Thánh hơn là trên những vật liệu dùng để viết Thánh Kinh. Thật vậy, Hội Thánh giữ trong truyền thống của ḿnh kư ức sống động của Lời Thiên Chúa, và chính Thánh Thần giải thích cho Hội Thánh ư nghĩa thiêng liêng của Thánh Kinh ("... theo nghĩa thiêng liêng mà Thánh Thần ban cho Hội Thánh được hiểu") ( Ô-ri-giê-nê bài giảng ; Lv 5, 5).

114 (90)

3* Phải lưu ư đến " tính loại suy đức tin" ( x. Rm 12, 6). "Tính loại suy đức tin" được hiểu là sự liên kết chặt chẽ giữa các chân lư đức tin với nhau và trong toàn bộ chương tŕnh mặc khải.

Các nghĩa được dùng trong Thánh Kinh

115  Theo một truyền thống cổ xưa, có thể phân biệt hai nghĩa được dùng trong Thánh Kinh : nghĩa văn tựnghĩa thiêng liêng. Nghĩa thiêng liêng được chia thành nghĩa ẩn dụ, luân lư và thần bí. Sự ḥa hợp sâu xa của bốn nghĩa này bảo đảm cho việc đọc Thánh Kinh cách sống động trong Hội Thánh được phong phú tối đa:

116 (110-114)  Nghĩa văn tự : Đây là nghĩa mà lời Thánh Kinh nêu lên và được khoa chú giải khám phá ra khi tuân theo những qui luật để giải nghĩa đúng. "Tất cả các nghĩa trong Thánh Kinh đều dựa vào nghĩa văn tự " ( Thánh Tô-ma Aquinô. Tổng luận 1, 1, 10, 1. ).

117 (1101)  Nghĩa thiêng liêng : Nhờ sự thống nhất trong ư định của Thiên Chúa, không những bản văn Thánh Kinh, mà cả các thực tại và biến cố được bản văn đề cập đến, đều có thể là những tiên trưng.

1.     Nghĩa ẩn dụ : Chúng ta có thể hiểu thấu đáo hơn các biến cố bằng cách nhận ra ư nghĩa của nó trong Đức Ki-tô. Ví dụ cuộc vượt qua Biển Đỏ là tiên trưng cuộc chiến thắng của Đức Ki-tô, do đó cũng là tiên trưng của phép Thánh Tẩy ( x. 1Cr 10, 2).

2.     Nghĩa luân : Các biến cố được Kinh Thánh thuật lại phải dẫn chúng ta đến một cách ăn ở chính trực. Các biến cố đó được viết ra "để răn dạy chúng ta" (1 Cr 10, 11) ( x. Dt 3-4, 11).

3.     Nghĩa thần : Chúng ta có thể đọc thấy ư nghĩa vĩnh cửu của các thực tại và biến cố, khi chúng hướng chúng ta về Quê Trời. Ví dụ Hội Thánh dưới đất là dấu chỉ Giê-ru-sa-lem trên trời ( x. Kh 21, 1-22, 5).

118  Hai câu thơ thời trung cổ tóm tắt ư của bốn nghĩa như sau :

 Nghĩa văn tự dạy về biến cố, Nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin, Nghĩa luân lư dạy điều phải làm, Nghĩa thần bí dạy điều phải vươn tới (Rotulus prigiecaris I : ed A WALZ : Angelium 6 (1929) Augustin de Dace. ).

119 (94)  "Theo các qui tắc ấy, người chú giải Thánh Kinh có nhiệm vụ nỗ lực t́m hiểu và tŕnh bày ư nghĩa Thánh Kinh cách sâu rộng hơn, hầu những nghiên cứu của họ, như một việc làm chuẩn bị, giúp phán quyết của Hội Thánh được chín chắn. Thật vậy, mọi điều liên hệ đến việc giải thích Thánh Kinh cuối cùng đều phải tùy thuộc vào phán quyết của Hội Thánh, v́ Hội Thánh được Thiên Chúa giao cho sứ mạng và chức vụ ǵn giữ và giải thích lời Chúa"(DV 12, 3).

113  Tôi sẽ không tin vào Tin Mừng, nếu thẩm quyền của Hội Thánh Công Giáo không thúc giục tôi (Thánh Âu tinh, Hộ giáo 5, 6).

IV. QUY ĐIỂN CÁC SÁCH THÁNH

120 (117)  Chính Truyền Thống các Tông đồ giúp Hội Thánh phân định những văn bản nào phải được kể vào danh mục các Sách Thánh (DV 8, 3). Danh mục đầy đủ này được gọi là " Quy điển" các Sách Thánh, gồm 46 bản văn Cựu ước (45, nếu gom Gr. và Ac. thành một) và 27 bản văn cho Tân Ước (x. DS 179; 1334-1336; 1501;-1504):

Cựu Ước : Sáng Thế, Xuất Hành, Lê Vi, Dân Số, Đệ Nhị Luật, Giô-su-ê, Thủ Lănh, Rút, 1và2 Sa-mu-en, 1và2 Các Vua, 1và 2 Sử Kư, Ê-dơ-ra và Nơ-khe-mi-a, Tô-bi-a, Giu-đi-tha, Ét-te, 1và2 Ma-ca-bê, Gióp, Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan, Huấn Ca, I-sa-i-a, Giê-rê-mi-a, Ai-ca, Ba-rúc, Ê-dê-ki-en, Đa-ni-en, Hô-sê, Gio-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Giô-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-cúc, Xô-phô-ni-a, Khác-gai, Da-ca-ri-a, Ma-la-khi.

Tân Ước: Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, Thánh Mác-cô, Thánh Lu-ca, Thánh Gio-an, Công vụ Tông đồ, Thư Rô-ma, Thư 1 và 2 Cô-rin-tô, Thư Ga-lát, Thư Ê-phê-sô, Thư Phi-líp-phê, Thư Cô-lô-xê, Thư 1và2 Thê-xa-lô-ni-ca, Thư 1và 2 Ti-mô-thê, Thư gởi cho Ti-tô, Thư gởi Phi-lê-mon, Thư Do-thái, Thư Thánh Gia-cô-bê, Thư 1và2 Thánh Phê-rô, Thư 1, 2 và 3 Thánh Gio-an, Thư Thánh Giu-đa, Khải Huyền.

Cựu Ước

121 (1093)  Cựu Ước là một phần của Thánh Kinh không thể thiếu được. Các sách Cựu Ước được Thiên Chúa linh hứng luôn có giá trị vĩnh cửu (x. DV14) v́ giao ước cũ không hề bị thu hồi.

122 (702 , 763 708 2568)  "Lư do chính của nhiệm cục thời Cựu Ước là chuẩn bị cho ngày xuất hiện của Đức Ki-tô Cứu Thế". "Dù c̣n chứa đựng những điều bất toàn và tạm thời", các sách Cựu Ước minh chứng khoa sư phạm thần diệu của t́nh yêu cứu độ của Thiên Chúa :"V́ chúng tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Thiên Chúa, những tư tưởng khôn ngoan và hữu ích về đời sống con người, những kho tàng kinh nguyện tuyệt diệu và sau cùng ẩn chứa mầu nhiệm cứu độ chúng ta" ( DV 15).

123  Người Ki-tô hữu tôn kính Cựu Ước như là Lời Thiên Chúa đích thật. Hội Thánh cực lực chống lại ư kiến đ̣i gạt bỏ Cựu Ước, viện cớ Tân Ước đă làm cho Cựu Ước ra lỗi thời (thuyết Mác-xi-on).

Tân Ứớc

124  "Lời Chúa là sức mạnh thần thiêng cứu độ mọi tín hữu, được tŕnh bày và tỏ lộ quyền năng cách đặc biệt trong các sách Tân Ước" (DV 17). Các sách ấy trao cho chúng ta chân lư tối hậu của Mặc khải. Trung tâm của Tân Ước là Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa nhập thể, các hành vi, lời giảng dạy, cuộc khổ nạn và tôn vinh của Người, cũng như những bước đầu của Hội thánh dưới tác động của Chúa Thánh Thần (DV 20).

125 (515)  Các Sách Tin Mừng là trung tâm của Thánh Kinh "v́ là chứng từ tuyệt hảo về cuộc đời và giáo huấn của Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng Cứu Độ chúng ta" (DV 18).

126  Trong việc h́nh thành các sách Tin Mừng, người ta có thể phân biệt ba giai đoạn :

1.     Cuộc đời và Giáo Huấn của Đức Giê-su. "Hội Thánh luôn khẳng định lịch sử tính của bốn sách Tin Mừng, cũng như mạnh mẽ và liên tục xác nhận bốn sách Tin Mừng trung thành ghi lại những ǵ Đức Giê-su Con Thiên Chúa khi sống giữa loài người, thực sự đă làm và đă dạy v́ ơn cứu độ đời đời của họ, cho tới ngày Người lên trời".

2.     (76) Truyền khẩu . "Những ǵ Chúa đă nói và làm, th́ sau cuộc thăng thiên của Nguời, các tông đồ truyền lại cho thính giả, với sự hiểu biết đầy đủ hơn mà chính các ông có được nhờ học ở những biến cố vinh hiển của Đức Ki-tô và nhờ được Thánh Thần chân lư soi sáng".

3.     (76) Các sách Tin Mừng . "Các thánh kư đă soạn bốn sách Tin Mừng, bằng cách chọn một số trong nhiều yếu tố đă được truyền miệng hoặc sao chép, tóm lược những yếu tố khác hay tùy theo hoàn cảnh của các giáo đoàn mà giải thích thêm, nhưng vẫn giữ h́nh thức của bài giảng thuyết. Và như vậyluôn chân thành truyền đạt cho chúng ta những điều chân thật về Đức Giê-su. " ( DV 19)

127 (1154)  Trong Hội Thánh, bốn sách Tin Mừng chiếm địa vị có một không hai : bằng chứng là phụng vụ luôn tôn kính và các thánh trong mọi thời đều say mê.

Không có giáo lư nào tốt hơn, quí hơn và sáng chói hơn bản văn Tin Mừng. Hăy xem và ghi nhớ những ǵ Đức Ki-tô, là Chúa và là Thầy của chúng ta, đă dạy qua các lời nói và thực hiện qua các hành động của Người (Thánh Césaria la Jeune).

(2705)  Trên hết mọi sự, chính Tin Mừng bổ dưỡng tôi trong các giờ cầu nguyện; nơi đó, tôi t́m thấy tất cả những ǵ cần thiết cho linh hồn đáng thương của tôi. Nơi đó tôi luôn khám phá những ánh sáng mới mẻ, những ư nghĩa ẩn giấu và mầu nhiệm (Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su).

Tính thống nhất giữa Cựu và Tân Ước

128 (1094 489)  Ngay từ thời các tông đồ ( x. 1Cr 10, 6. 11; Dt 10, 1; 1Pr 3, 21) và trong suốt truyền thống của ḿnh, Hội Thánh đă soi sáng tính thống nhất của ư định Thiên Chúa trong cả hai Giao Ước, nhờ khoatiên trưng. Khoa này nhận ra, trong các công tŕnh của Thiên Chúa dưới thời Cựu ước, những "h́nh ảnh báo trước" điều Thiên Chúa sẽ hoàn thành trong thời viên măn, nơi Ngôi Lời nhập thể .

129 (651 2055 1968)  Vậy các ki-tô hữu phải đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Đức Ki-tô chết và sống lại. Cách đọc tiên trưng này làm tỏ hiện nội dung vô tận của Cựu Ước. Nhưng không được quên rằng Cựu Ước vẫn có giá trị mặc khải riêng, mà chính Chúa Giê-su đă tái khẳng định ( x. Mc 12, 29-31). Đàng khác, Tân Ước đ̣i hỏi cũng phải được đọc dưới ánh sáng Cựu Ước. Việc huấn giáo của Hội Thánh thời sơ khai luôn làm như vậy ( x. 1Cr 5, 6-8; 10, 1-11). Theo một ngạn ngữ cổ xưa, Tân Ước ẩn tàng trong Cựu Ước, Cựu Ước tỏ lộ trong Tân Ước "Novum in Vetere latet et in Novo Vetus patet" ( Th. Âu Tinh thất thư 2, 73; x. DV 16)

130 Khoa tiên trưng cho thấy sức năng động của kế hoạch Thiên Chúa đang tiến đến lúc hoàn thành khi "Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài" (1Cr 15, 28). Chẳng hạn việc kêu gọi các tổ phụ và cuộc xuất hành khỏi Ai cập, không phải v́ chúng là những giai đoạn trung gian mà mất đi giá trị riêng của ḿnh trong kế hoạch của Thiên Chúa.

V. KINH THÁNH TRONG ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH

131  "Lời Chúa c̣n có sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Hội Thánh, ban sức mạnh đức tin, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Hội Thánh"( DV 21). Cần phải "mở rộng đường cho các Ki-tô hữu đến với Thánh Kinh"( DV 22).

132 (94) "Nghiên cứu Thánh Kinh phải là hồn của khoa thần học thánh. Thừa tác vụ Lời Chúa - gồm có là việc rao giảng thuộc mục vụ, dạy giáo lư và mọi huấn dụ Ki-tô giáo, trong đó bài giảng phụng vụ phải chiếm một chỗ quan trọng-phải được nuôi dưỡng và gia tăng sinh lực cách lành mạnh, nhờ lời Thánh Kinh (DV 24)".

133 (2653 1792)  Hội Thánh "tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Ki-tô hữu "hăy năng đọc Thánh Kinh để học biết khoa học siêu việt của Đức Giê-su Ki-tô (Pl 3, 8). "V́ không biết Thánh Kinh là không biết Đức Ki-tô" (Thánh Giê-rô-ni-mô) (DV 25).

TÓM LƯỢC

134  "Toàn bộ Thánh Kinh chỉ là một cuốn sách duy nhất, và cuốn sách duy nhất ấy chính là Đức Ki-tô, v́ toàn bộ Thánh Kinh nói về Đức Ki-tô và được hoàn tất trong Đức Ki-tô" ( Hugues de Saint Dearen, Nô-ê 2, 8 PL 176, x. ibid 2, 9).

135  "Các sách Thánh Kinh chứa đựng Lời Thiên Chúa và v́ được linh hứng, nên thực sự là Lời Chúa" (DV 24).

136  Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh theo nghĩa Người là Đấng linh hứng các tác giả nhân loại: Người tác động nơi họ và qua họ. Như thế, Người bảo đảm các tác phẩm của họ giảng dạy không sai lầm chân lư cứu độ (x. DV 11).

137 Muốn giải nghĩa các Sách Thánh đă được Thiên Chúa linh hứng, trước hết phải chú tâm đến điều Thiên Chúa muốn mặc khải qua các thánh kư, để cứu độ chúng ta. "Điều ǵ phát sinh từ Thánh Thần chỉ hiểu được trọn vẹn nhờ Thánh Thần"( Ô-ri-giê-nê, bài giảng Xh 4, 5 PL 176, 642; 643).

138  Hội Thánh đón nhận và tôn kính 46 sách của Cựu Ước và 27 sách của Tân Ước như là những sách được Thiên Chúa linh hứng .

139  Bốn quyển Tin Mừng chiếm địa vị trung tâm của toàn bộ Thánh Kinh, v́ Đức Ki-tô là trung tâm của Tin Mừng.

140  V́ Thiên Chúa chỉ có một ư định cứu độ nhân loại và chỉ có một mặc khải duy nhất, nên cả hai giao ước thống nhất với nhau: Cựu Ước chuẩn bị cho Tân ước, Tân Ước hoàn tất Cựu ước, cả hai soi sáng cho nhau, cả hai đều thật sự là Lời Thiên Chúa.

141 "Hội Thánh vẫn luôn tôn kính Thánh Kinh như từng tôn kính chính Ḿnh Thánh Chúa ( x. DV 21)": cả hai nuôi dưỡng và chi phối toàn diện đời sống Ki-tô hữu. "Lời Ngài là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi" (Tv 119, 105) ( x. Is 50, 4).