| Trang chính | Diễn Đàn |Tin Tức | Đăng ký| Tài Liệu | Tìm Kiếm | Ủy Ban| Nối Kết| Tiếng Anh

Trang Chính
Trang Thánh Kinh
Trang Giáo Lý
Trang Luân Lý
Trang Nhập Đạo
Trang Linh Đạo
Trang Truyền Giáo
Trang Sư Phạm GL
Tài Liệu Hội Thánh
Trang Hộ Giáo
Trang Thánh Mẫu
Trang Phụng Vụ
Học Thuyết Xã Hội
Tin Tức
Diễn Đàn
Tài Liệu Học Tập
Trang Sinh Hoạt
Góp Ý Kiến
Sách Điện Tử CG
Bài Đọc Nhiều Nhất
1. GLCG - Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo
2. Sư Phạm Giáo Lý Căn Bản
3. Giáo Lý Công Giáo Việt Nam Dành cho Giáo Lý Viên và Người Trưởng Thành
4. Giáo Lý Yếu Lược
5. Hướng Dẫn Giải Thích Thánh Kinh theo Công Giáo
6. Nghệ Thuật Dạy về Ðức Tin
7. TÓM LƯỢC VÀ GIẢI THÍCH SÁCH CHỈ NAM VỀ DẠY GIÁO LÝ
8. Những Bài Giáo Lý Mới của ĐTC Benêđictô XVI về Thánh Phaolô
9. Thánh Kinh - Bản Dịch của Nhóm Giờ Kinh Phụng Vụ
10. Tông Huấn CATECHESI TRADENDAE về DẠY GIÁO LÝ TRONG THỜI ĐẠI CHÚNG TA
 Thành viên có mặt 
 Khách: 001
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 001
 Hits 000546210
 Đăng nhập/Đăng ký 
Bí danh
Mật khẩu
Ghi nhớ
 Lịch 
Tháng Chín 2010
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
 <  > 
 Ngôn ngữ 
 Chủ Trương 

 Ủy Ban GL VN tại H K

 giaoly@giaoly.org

 LM Nguyễn Việt Hưng
 LM Phạm Văn Tuệ
 LM Trần Cao Tường
 LM Vũ Xuân Minh
 GS Quyên Di
 GS Lê Xuân Hy
 Ông Đinh Văn Dương

 Ông Phạm Xuân Khôi

 Ông Nguyễn Nhật
 Chị Mai Hương
 Chị Vũ N. Đoan Trang

 Files Mới 
  Jeopardy Games with Sound Files20.06.2009
  Đại Cương về Học Thuyết Xã Hội Công Giáo27.11.2007
  Thiên Hùng Sử - Lịch Sử Các Thánh Tử Đạo Việt Nam17.11.2007
  Catechism of The Catholic Church17.11.2007
  Powerpoint về Phá Thai (Abortion)10.11.2007
  Phương Pháp Soạn Bài và Đứng Lớp Presentation16.07.2007
  Bản Tin Giáo Lý & Việt Ngữ Tháng 7/200702.07.2007
  Bản Tin Giáo Lý18.06.2007
 Thăm dò dư luận 
Bạn đến từ Giáo Phận nào?

 Baton Rouge
 Galveston - Houston
 New Ỏleans
 San Jose
 Dallas
 Los Angeles
 Orange
 Viêt Nam
 Nơi Khác



Kết quả
Những thăm dò khác

Bài trả lời: 342
Thảo luận: 24
 
Tin tức Hôm nay:
Sứ Điệp Kết Thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục về Lời Chúa
06.03.2009 17:55

Dưới đây là bản dịch sứ điệp tổng kết của Thượng Hội Đồng Giám Mục, được Hội Nghị Thường Lệ lần thứ 21 chấp thuận hôm nay.Đề tài của Hội Nghị là “Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Vụ Hội Thánh”

Sứ Điệp Kết Thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục về Lời Chúa

Dưới đây là bản dịch sứ điệp tổng kết của Thượng Hội Đồng Giám Mục, được Hội Nghị Thường Lệ lần thứ 21 chấp thuận hôm nay.Đề tài của Hội Nghị là “Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Vụ Hội Thánh”

* * *

Anh chị em thân mến,

“Nguyện xin Thiên Chúa Cha và Đức Chúa Giêsu Kitô ban cho tất cả anh chị em bình an, tình yêu và đức tin. Chớ gì ân sủng ở cùng tất cả những ai yêu mến Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, bằng một tình yêu[1] bất diệt”.  Với lời chào nồng nhiệt và thiết tha này, Thánh Phaolô đã kết thúc Thư ngài gửi các Kitô hữu thành Êphêxô (Eph -24). Với cùng những lời này, chúng tôi, các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng Giám Mục, nhóm họp tại Rôma để dự Hội Nghị Thường Lệ của Thượng Hội Đồng, dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, cũng mở đầu sứ điệp của chúng tôi gửi đến chân trời bao la của tất cả những ai, ở những vùng khác nhau trên thế giới, là những người đi theo Đức Kitô như những môn đệ, và tiếp tục yêu mến Người bằng một tình yêu bất diệt.

Một lần nữa chúng tôi lại đề nghị với họ tiếng nói và ánh sáng của Lời Chúa, nhắc lại lời mời gọi ngày xưa: Lời rất gần anh em, đã có sẵn ở trong miệng và trong lòng anh em, để anh em thi hành” (Đnl 30:14). Và Chính Thiên Chúa sẽ nói với mỗi người: “Hỡi con người, hãy ghi nhớ vào lòng mọi sự Ta nói với ngươi, hãy cẩn thận lắng nghe” (Edêkiel ). Chúng tôi sắp sửa đề nghị một cuộc hành trình tâm linh gồm bốn giai đoạn và cuộc hành trình ấy sẽ đưa chúng ta từ muôn đời và bản tính vô tận của của Thiên Chúa đến nhà chúng ta và các đường phố của các đô thị chúng ta.

 I.       TIẾNG NÓI CỦA LỜI CHÚA: SỰ MẶC KHẢI

 1. “Rồi Chúa phán cùng anh em từ giữa ngọn lửa. Anh em nghe tiếng nói, nhưng không thấy hình dáng; chỉ có một tiếng mà thôi!” (Đnl 4:12). Đó là lời của ông Môsê, nhắc lại kinh nghiệm mà dân Israel đã sống trong tĩnh mịch thê lương của hoang địa Sinai. Chúa đã hiện ra không phải bằng hình ảnh hay hình nộm hoặc hình tượng giống như con bò vàng, nhưng bằng “tiếng nói của Lời”. Đó là một tiếng nói đi vào sân khấu ngay từ khi mới bắt đầu cuộc tạo dựng, khi tiếng ấy xé tan sự thinh lặng của hư vô: “Từ ban đầu… Thiên Chúa phán, ‘Hãy có ánh sáng’, và liền có ánh sáng… Từ ban đầu đã có Ngôi Lời: Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa… Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, không có gì hiện hữu mà không nhờ Người” (St 1:1,3; Ga 1:1,3).

Công cuộc tạo dựng không xảy ra do sự tranh chấp giữa các thần minh, như các truyện thần thoại của người Mêsôpôtamia dạy, nhưng bởi Lời Chúa đánh bại hư không và tạo dựng sinh vật. Tác giả Thánh Vịnh nói: “Lời của Chúa tạo ra các tầng trời, hơi thở Ngài làm thành muôn tinh tú… Vì khi Ngài vừa phán, thì chúng được dựng nên, khi Ngài ra lệnh, thì chúng được tạo thành” (Tv 33:6, 9). Và Thánh Phaolô nhắc lại: Thiên Chúa “làm cho kẻ chết được sống, và làm cho những gì không có trở thành có” (Rom ). Như thế, người ta tìm thấy mặc khải đầu tiên về vũ trụ làm cho việc tạo dựng giống như một trang sách vĩ đại mở ra trước mặt tất cả nhân loại, mà trong đó người ta có thể đọc được một sứ điệp từ Đấng Tạo Hóa: “Các tầng trời cao rao vinh quang Thiên Chúa, cả bầu trời tán tụng các việc của tay Ngài. Ngày này ngày kia nhắc nhở sứ điệp của Ngài, đêm nay truyền thụ đêm mai kiến thức này.Chẳng nói một câu, cũng chẳng một lời; giọng của chúng cũng chẳng ai nghe thấy. Nhưng tiếng chúng lan ra toàn cõi đất” (Tv 19:2-5).

2. Tuy nhiên, Lời Chúa cũng ở lúc khởi đầu của lịch sử nhân loại. Người nam và người nữ, là những người được Thiên Chúa dựng nên theo “hình ảnh của Chính Ngài” (St ), và họ mang trong mình dấu vết của Thiên Chúa, có thể đàm đạo với Đấng Tạo Hóa của họ hoặc có thể lang thang xa Ngài và chối bỏ Ngài bằng cách phạm tội. Như thế Lời Chúa cứu độ và phán xét, thấm nhập tấm vải đan của lịch sử với những câu truyện và biến cố của Lời Chúa: “Ta đã thấy rõ nỗi cực khổ của dân Ta tại Ai Cập, và nghe thấu tiếng kêu rên của chúng … Ta biết rõ sự đau khổ của chúng. Ta ngự xuống để giải thoát chúng khỏi tay người Ai Cập, và dẫn chúng ra khỏi Ai Cập, và đưa chúng từ đất đó lên đến một đất đẹp đẽ và rộng rãi” (Xh 3:7-8). Như vậy Thiên Chúa hiện diện trong các biến cố của nhân loại, và qua hành động của Chúa lịch sử, những biến cố được đưa vào chương trình cứu độ lớn lao hơn để “mọi người được cứu độ và hiểu biết chân lý cách hoàn toàn” (1 Tm 2:4).

3. Như thế Lời hiệu nghiệm, sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa  chính là nguồn mạch của sự sống và của lịch sử, của việc tạo dựng và việc cứu độ. Chúa đã gặp gỡ nhân loại và tuyên bố, “Ta là Chúa, đã phán và đã làm điều này” (Edk 37:14). Sau này Tiếng nói của Thiên Chúa được chuyển thành văn tự, Graphé hay Graphai, Thánh Kinh, như được nói đến trong Tân Ước. Ông Môsê đã xuống núi Sinai, “với hai Chứng Ước trên tay; hai bia đá được viết cả hai mặt, trước và sau. Hai bia đá là công trình của Thiên Chúa; chữ khắc trên đó cũng được viết bởi chính Thiên Chúa” (Xh 32:15-16). Chính ông Môsê đã bắt buộc dân Israel phải bảo toàn và viết lại những “Bia Đá Giới Luật”: “Anh em hãy khắc thật rõ ràng trên các bia đá ấy tất cả các lời của lề luật này” (Đnl 27:8).

Thánh Kinh “làm chứng” cho Lời Chúa dưới dạng văn tự.Người ta ghi nhớ biến cố tạo dựng và cứu độ của mặc khải bằng phương tiện quy điển, lịch sử và văn tự. Cho nên, Lời Chúa có trước và vượt trên Sách Thánh Kinh, là sách cũng được Thiên Chúa “linh hứng” và chứa đựng Lời hiệu nghiệm của Thiên Chúa (x. 2 Tm 3:16). Đó là lý do tại sao Đức Tin của chúng ta không đặt trọng tâm vào một quyển sách, nhưng vào một lịch sử cứu độ, và như chúng ta sẽ thấy, vào một người, là Đức Chúa Giêsu Kitô, Lời Chúa làm người, một người trong lịch sử. Chính vì quyền hạn của Lời Chúa bao gồm và trải ra ngoài Thánh Kinh, sự hiện diện liên tục của Chúa Thánh Thần là Đấng sẽ “dẫn đưa anh em đến chân lý trọn vẹn” (Ga 16:13) là điều cần thiết đối với những người đọc Sách Thánh Kinh. Đây là Truyền Thống cao quý: sự hiện diện có hiệu quả của “Thần Chân Lý” trong Hội Thánh, là cơ quan gìn giữ Thánh Kinh, được giải thích cách xác thực bởi Huấn Quyền của Hội Thánh. Truyền Thống này giúp cho Hội Thánh hiểu, giải thích, truyền thông và làm chứng cho Lời Chúa. Chính Thánh Phaolô, trong khi công bố Kinh Tin Kính đầu tiên của Kitô giáo, đã nhìn nhận sự cần thiết phải “truyền lại” điều ngài “đã nhận được” từ Truyền Thống (1 Cor 15:3-5).

II . DUNG MẠO CỦA LỜI CHÚA: ĐỨC CHÚA GIÊSU KITÔ

 4. Trong nguyên ngữ Hy Lạp, chỉ có ba chữ căn bản: Lógos sarx eghéneto, “Ngôi Lời trở thành nhục thể”. Nhưng đó là tột đỉnh không phải chỉ của viên ngọc thi vị và có tính cách thần học, là Lời Mở Đầu của Tin Mừng Thánh Gioan (Ga 1:4), nhưng câu này cũng thực sự là trọng tâm của Đức Tin Kitô giáo.  Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa đi vào không gian và thời gian cùng nhận lấy một dung mạo và cá tính loài người, đến nỗi chúng ta có thể lại gần Người cách trực tiếp bằng cách hỏi như một nhóm người Hy Lạp có mặt ở Giêrusalem: “Chúng tôi muốn gặp ông Giêsu” (Ga 12:20-21). Lời mà không có dung mạo thì chưa phải là lời hoàn hảo, chúng không hoàn toàn hoàn thành cuộc gặp gỡ, như ông Giób nhắc lại khi đến cuối đoạn đường tìm kiếm bi thảm: “Trước đây, con biết Ngài chỉ qua lời người khác,…  nhưng giờ đây, con đã thấy Ngài tận mắt” (Giob 42:5).

Đức Kitô là “Ngôi Lời đã ở cùng Thiên Chúa và là Thiên Chúa” (Ga 1:1).“Người là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, trưởng tử của mọi tạo vật” (Col 1:15); nhưng Người cũng là Chúa Giêsu thành Nadareth, là Đấng bước đi trên các nẻo đường của một tỉnh bên lề Đế Quốc Rôma, Đấng nói tiếng địa phương, tỏ lộ đặc điểm của một dân tộc, dân Do Thái, và nền văn hóa của họ. Cho nên Chúa Giêsu thật sự là một con người mỏng dòn và hay chết; Người là lịch sử và nhân loại, nhưng Người cũng là vinh quang, Thiên Chúa và mầu nhiệm: Người là Đấng mặc khải cho chúng ta về Thiên Chúa, Một Thiên Chúa mà chưa có ai từng thấy (x. Ga 1:18). Con Thiên Chúa vẫn tiếp tục như thế ngay cả trong thân xác bị chết được đặt trong mồ, và việc sống lại là một bằng chứng sống động và rõ ràng về sự kiện này.

5. Truyền thống Kitô giáo thường đặt Lời Chúa làm người song song với Lời Chúa làm sách. Đây là điều đã xuất hiện trong Kinh Tin Kính khi người ta tuyên xưng rằng Con Thiên Chúa “bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người”, nhưng cũng là một tuyên xưng Đc Tin vào cùng một “Chúa Thánh Thần, là Đấng đã nhờ các Tiên Tri mà phán dạy”. Công Đồng Vaticanô II thu thập truyền thống cổ xưa này mà theo đó thì “Thân thể của Chúa Con là Thánh Kinh được truyền lại cho chúng ta” – như Thánh Ambrôsiô quả quyết (In Lucam VI, 33). – và Công Đồng công bố cách rõ ràng: “Vì Lời Thiên Chúa, được diễn tả bằng ngôn ngữ loài người, đã được làm thành như những lời đàm đạo của loài người, như Lời của Chúa Cha hằng hữu, khi Người tự nhận lấy cho mình xác thịt của sự yếu đuối của con người, đã trở thành giống con người về mọi phương diện” (DV 13).

Quả thật, Thánh Kinh cũng là “thịt”, “chữ”; Thánh Kinh tự bày tỏ mình bằng những ngôn ngữ riêng biệt, dưới hình thức văn tự và lịch sử, trong quan niệm được gắn liền với một nền văn hóa cổ, bảo tồn những kỷ niệm về các biến cố, thường thì đau thương; các trang của Thánh Kinh cũng đánh dấu nhiều lần bằng máu và bạo lực, trong đó vang lại việc giết người và những dòng nước mắt tuôn trào, cũng như tiếng kêu cứu của những người khốn cùng và niềm vui của những kẻ yêu nhau. Vì thế, bình diện “thể xác” của Thánh Kinh đòi hỏi một phân tích lịch sử và văn tự, được thực hiện bằng nhiều phương pháp và tiếp cận khác nhau bởi các nhà chú giải Thánh Kinh. Mọi người đọc Thánh Kinh, dù người đơn sơ nhất, cũng phải có một kiến thức tương đối về bản thánh văn, bằng cách nhớ lại rằng Lời Chúa được bao bọc bởi những lời cụ thể, là những lời được hình thành và thích nghi để giúp cho toàn thể nhân loại có thể nghe và hiểu.

Đây là một công tác cần thiết. Nếu loại nó ra, một người có thể trở thành người theo chủ thuyết cơ bản là chủ thuyết trên thực hành chối bỏ việc Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa trong lịch sử, không nhìn nhận rằng Chính Ngôi Lời này đã tự bày tỏ trong Thánh Kinh theo một ngôn ngữ của loài người, là ngôn ngữ cần phải được giải thích, học hỏi và hiểu biết. Một thái độ như thế đã làm ra vẻ không biết rằng mặc khải của Thiên Chúa không xoá đi những đặc tính lịch sử và cá tính của các tác giả nhân loại của Thánh Kinh. Tuy nhiên, Thánh Kinh cũng là Lời hẳng hữu của Thiên Chúa và vì thế cần phải có một sự hiểu biết khác, được ban cho bởi Chúa Thánh Thần là Đấng tiết lộ bình diện siêu việt của Lời Chúa đang hiện diện trong lời của loài người.

6. Như thế, ở đây cho thấy sự cần thiết của “Truyền Thống sống động của Hội Thánh” (DV 12) và Đức Tin để hiểu Thánh Kinh một cách đầy đủ và thống nhất. Nếu người ta chỉ phải chú tâm đến “từ ngữ”, Thánh Kinh chỉ còn là một tài liệu nghiêm túc trong quá khứ, một chứng từ cao quý, có tính cách đạo đức và văn hóa. Tuy nhiên, nếu loại việc Nhập Thể ra ngoài, thì lại rơi vào tình trạng nước đôi của chủ thuyết cơ bản hay mập mờ của chủ thuyết duy linh hay chủ thuyết tâm lý. Cho nên kiến thức về chú giải Thánh Kinh phải tự mình liên kết cách chặt chẽ với truyền thống tâm linh và thần học để không làm đổ vỡ sự đồng nhất giữa thiên tính và nhân tính của Đức Chúa Giêsu Kitô và của Thánh Kinh.

 Trong sự hoà hợp mà chúng ta vừa tái khám phá này, dung mạo của Đức Kitô sẽ chiếu sáng cách trọn vẹn và sẽ giúp chúng ta khám phá ra một sự hợp nhất khác, sự hợp nhất sâu xa và mật thiết giữa các Sách Thánh Kinh. Thực ra có 73 cuốn sách, nhưng tất cả hợp lại thành một “Quy Điển” trong một cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và nhân loại, trong một chương trình cứu độ. “Thiên Chúa đã phán cùng cha ông chúng ta qua các ngôn sứ bằng nhiều phần và bằng nhiều cách; nhưng vào những ngày sau hết này, Ngài đã phán cùng chúng ta qua Con của Ngài, là Ðấng mà Ngài đã cho thừa tự tất cả mọi sự, và cũng nhờ Người mà Ngài đã tạo dựng thế gian” (Dt 1:1-2). Như thế Đức Kitô đã chiếu ánh sáng của Người một cách hồi tưởng trên toàn thể sự phát triển của lịch sử cứu độ và tỏ lộ sự liên kết, ý nghĩa, hường đi của lịch sử này.

Người là dấu ấn “Alpha và Ômêga” (Kh 1:8) của cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và các tạo vật của Ngài được phân phát theo thời gian và được làm chứng trong Thánh Kinh. Chính trong ánh sáng của dấu ấn cuối cùng này mà những lời của ông Môsê và các ngôn sứ đạt được “nghĩa đầy đủ” của chúng. Chính Chúa Giêsu đã cho biết điều này trong buổi chiều mủa xuân ấy khi Người đi đường từ Giêrusalem đến thành Êmmau, trong lúc đàm thoại với ông Clêôpa và bạn của ông, và giải thích “cho các ông những đoạn Thánh Kinh nói về Người” (Lk 24:27).

Lời ấy của Thiên Chúa đã trở nên một khuôn mặt ở trung tâm của mặc khải. Đó chính là lý do tại sao nguyên tắc cứu cánh chủ yếu của kiến thức về Thánh Kinh “không phải là kết quả của một chọn lựa đạo đức hay một tư tưởng cao quý, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người, là biến cố ban cho đời sống một chân trời mới và một hướng đi dứt khoát” (Deus caritas est, 1).

III. NGÔI NHÀ CỦA LỜI CHÚA: HỘI THÁNH

 Như Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa trong Cựu Ước đã xây nhà mình trong những đô thị của những con người nam nữ, nâng đỡ nhà ấy bằng bảy cột trụ (x. Cn 9:1), thì Lời Chúa  cũng xây ngôi nhà của mình trong Tân Ước. Hội Thánh có mẫu của mình là cộng đồng Mẹ tại Giêrusalem. Hội Thánh được xây dựng trên Thánh Phêrô cùng các Tông Đồ, và hôm nay, qua các giám mục hiệp thông cùng Đấng Kế Vị Thánh Phêrô, vẫn tiếp tục giữ gìn, công bố và giải thích Lời Chúa (x. LG 13). Trong Sách Tông Đồ Công Vụ (2:42), Thánh Luca phác họa lại cách kiến trúc của Hội Thánh dựa trên bốn cột trụ lý tưởng mà ngày vẫn còn được thấy bằng những hình thức khác nhau của các cộng đồng của Hội Thánh: “Họ vẫn chuyên cần tuân giữ các giáo huấn của các Tông Ðồ, và tham gia đời sống cộng đồng, tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện”.

7. Ở đây, trước hết, là các giáo huấn của các Tông Đồ, có nghĩa là việc giảng dạy Lời Chúa. Thực ra, Thánh Tông Đồ Phaolô cảnh giác chúng ta rằng: “Đức tin đến từ được nghe, và điều được nghe qua Lời của Đức Kitô” (Rm ). Tiếng nói của những người đưa tin đến từ Hội Thánh, là cơ quan đưa ra lời rao giảng kérygma, có thể được nói là lời công bố đầu tiên và căn bản mà chính Chúa Giêsu đã công bố khi bắt đầu cuộc đời công khai của Người: “Ðây là thời kỳ viên mãn, và Nước Thiên Chúa đã gần đến. Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc ). Các Tông Đồ rao giảng cái chết và sự sống lại của Đức Kitô, công bố việc tiết lộ Nước Thiên Chúa, nghĩa là, sự can thiệp dứt khoát của Thiên Chúa vào lịch sử nhân loại: “Chỉ trong Người mới có ơn cứu độ; vì không có một danh nào khác dưới gầm trời này được ban cho nhân loại, mà nhờ đó mà chúng ta được cứu độ” (Cv 4:12). Các Kitô hữu làm chứng về niềm hy vọng này “Nhưng hãy trả lời cách hiền lành và kính sợ. Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, để khi có ai nói xấu anh em, thì chính những kẻ ấy phải xấu hổ, vì đã vu oan về cách sống ngay thẳng của anh em trong Ðức Kitô. Bởi thà chịu đau khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý Thiên Chúa, còn hơn là vì làm việc dữ” (1 Phr -17).

Như thế, việc dạy Giáo Lý vang vọng trong Hội Thánh: đây là việc có mục đích đào sâu “sự hiểu biết của Kitô hữu về mầu nhiệm của Đức Kitô trong ánh sáng Lời Chúa để tất cả nhân loại được thấm nhuần bởi Lời ấy” trong Kitô Giáo (ĐTC Gioan Phaolô II, Catechesi tradendae, số 20). Nhưng cao điểm của việc giảng dạy là bài giảng, là điều đối với nhiều Kitô hữu ngày nay vẫn là giây phút chính để gặp gỡ Lời Chúa.Trong hành động này, vị thừa tác viên cũng phải biến đổi thành một ngôn sứ. Thực ra, vị ấy với một ngôn ngữ rõ ràng, sắc bén, có thực chất phải không những chỉ rao giảng với quyền bính “Công trình tuyệt diệu của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ” (SC 35) -- được đưa ra trước hết bởi việc đọc rõ ràng và sống động bài Sách Thánh được đề nghị trong phụng vụ -- nhưng còn phải làm cho những bài đọc này được thể hiện trong những thời điểm và giây phút được thính giả sống, cùng làm phát sinh trong lòng họ câu hỏi về hoán cải và cam kết quan trọng: "Thưa anh em, chúng tôi phải làm gì?" (Cv 2: 37).

Cho nên việc giảng dạy, dạy Giáo Lý và bài giảng bao hàm một bài đọc và sự hiểu biết, cắt nghĩa và giải thích, một sự tham gia của tâm trí và tâm hồn. Như thế trong việc giảng dạy chúng ta có được một động tác hai chiều. Với chiều thứ nhất, người ta trở lại cội rễ của những bản văn thánh, đó là các biến cố, những lời đầu tiên trong lịch sử cứu độ, để hiểu chúng theo ý nghĩa và sứ điệp của chúng. Với động tác thứ nhì người ta trở về hiện tại, về ngày hôm nay đang được sống bởi những thính giả và độc giả, luôn luôn nghĩ đến Đức Kitô, là Đấng ngọn đèn liên kết các Sách Thánh Kinh lại. Đây là điều chính Chúa Giêsu đã làm – như Người đã nói – với hai môn đệ của Người trong cuộc hành trình từ Giêrusalem đến Êmau. Đây là điều Phó Tế Philipphê đã làm trên đường từ Giêrusalem đi Gada, khi ông đàm thoại điển hình với viên chức Êthiôpia: “Ngài có hiểu những điều ngài đang đọc không? … Làm sao tôi hiểu được trừ khi có người nào hướng dẫn tôi?”(Cv 8:30-31). Và kết quả là một cuộc gặp gỡ Đức Kitô cách đầy đủ trong bí tích.Đó là việc cột trụ thứ nhì nâng đỡ Hội Thánh, ngôi nhà của Lời Chúa, tự giới thiệu mình thế nào.

 8. Đây là việc bẻ bánh. Quang cảnh tại Êmau (x. Lc 24:13-15) lại một lần nữa, được tái lập trên bàn thờ mỗi ngày trong các nhà thờ của chúng ta, việc bẻ bánh Thánh Thể đi theo sau bài giảng của Chúa Giêsu về ông Môsê và các ngôn sứ. Đó là giây phút đàm đạo thân mật của Thiên Chúa với dân Ngài; đó là cử chỉ của Giao Ước Mới được đóng ấn trong Máu của Đức Kitô (x. Lc 22:20); đó là công trình cao siêu của Ngôi Lời là Đấng tự hiến mình làm của ăn trong thân xác hy sinh của Người; đó là nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống và sứ mạng Hội Thánh. Câu truyện trong Tin Mừng về Bữa Tiệc Ly, cuộc tưởng niệm hy tế của Đức Kitô, trở thành biến cố và bí tích khi được tuyên bố trong lúc cử hành Thánh Thể, qua lời cầu xin Chúa Thánh Thần. Đó là lý do tại sao Công Đồng Vaticanô II trong một đoạn rất mãnh liệt đã công bố: “Hội Thánh luôn tôn kính Thánh Kinh của Thiên Chúa như tôn kính Mình Chúa, bởi vì, đặc biệt là trong Phụng Vụ Thánh, Hội Thánh không ngừng đón nhận và trao ban cho các tín hữu bánh ban sự sống từ cả hai bàn Lời Chúa và Mình Đức Kitô” (DV 21). Cho nên, “Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể được liên kết chặt chẽ với nhau đến nỗi cả hai làm thành một hành vi phụng tự duy nhất” (SC 56), và việc này phải được mang trở về trung tâm đời sống Kitô hữu.

 9. Cột trụ thứ ba của ngôi nhà thiêng liêng của Hội Thánh, ngôi nhà của Lời Chúa, được tạo thành bởi cầu nguyện, được dệt “bằng Thánh Vịnh và thánh thi và bằng thánh ca được linh hứng” như Thánh Phaolô nhắc nhở (Col 3:16). Điều tự nhiên là chỗ đứng ưu tiên của Giờ Kinh Phụng Vụ (Kinh Nhật Tụng), lời cầu nguyện ưu tú của Hội Thánh nhằm mục đích đem lại nhịp điệu cho những ngày và mùa của năm Kitô giáo, cung cấp thức ăn tinh thần cho các tín hữu, nhất là nhờ việc hát Thánh Vịnh. Bên cạnh lời cầu nguyện này và việc cộng đoàn cử hành Lời Chúa, truyền thống đã đưa ra việc thực hành Lectio Divina (Đọc Lời Chúa), là một cách vừa đọc Thánh Kinh vừa cầu nguyện trong Chúa Thánh Thần, một cách có thể mở ra cho các tín hữu kho tàng của Lời Chúa, và cũng tạo ra một cuộc gặp gỡ với Đức Kitô, Lời sống động của Thiên Chúa. Cách này bắt đầu bằng việc đọc (lectio) đoạn văn, việc đọc này sẽ gợi lên câu hỏi giúp chúng ta hiểu biết đúng về nội dung thật sự của đoạn văn: đoạn văn Thánh Kinh này tự nó muốn nói gì? Rồi sau đó là suy niệm (meditatio) với câu hỏi như: đoạn văn Thánh Kinh này muốn nói gì với chúng ta? Bằng cách này, chúng ta đi đến cầu nguyện (oratio), một việc bao hàm trong đó một câu hỏi khác: Chúng ta phải thưa gì với Chúa để đáp lại Lời Ngài? Và kết thúc bằng chiêm niệm (contemplatio); trong lúc đó chúng ta đón nhận, như hồng ân của Thiên Chúa, cùng một cái nhìn trong việc xem xét thực trạng [của mình] và tự hỏi: Chúa muốn chúng ta phải hoán cải trí khôn, tâm hồn và đời sống cách nào?

Trước mặt người đọc Lời Chúa trong cầu nguyện, xuất hiện một cách lý tưởng hình ảnh Đức Mẹ Maria, Mẹ Chúa, Đấng “đã ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy niệm trong lòng” (Lc 2:19; xem 2:51), nghĩa là, như nguyên bản Hy Lạp nói, tìm ra mấu chốt sâu xa nối kết các biến cố, hành động và sự việc xem ra khác biệt trong chương trình cao cả của Thiên Chúa. Thái độ của bà Maria, em bà Martha, cũng có thể được đề ra cho các tín hữu, khi họ đọc Thánh Kinh, vì bà ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe Lời Người, không để cho bận tâm bề ngoài hoàn toàn thu hút tâm hồn bà, dành ngay cả thì giờ rảnh rỗi cho “phần tốt hơn”, là phần không bao giờ bị lấy mất (xem Lc 10:38-42).

10. Sau cùng, chúng ta đi đến cột trụ cuối cùng nâng đỡ Hội Thánh, ngôi nhà của Lời Chúa: là koinonía, tình yêu huynh đệ, một tên khác của agápe, nghĩa là đức ái Kitô giáo. Như Chúa Giêsu đã dạy, để trở thành anh chị em của Người, người ta phải như “những người lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành” (Lc ). Lắng nghe đích thực là vâng lời và hành động. Nó có nghĩa phải làm cho công lý và tình yêu thăng hoa trong đời sống. Nó đề ra trong đời sống và trong xã hội một chứng từ giống như lời kêu gọi của các ngôn sứ, một lời kêu gọi liên tục kết hợp lời Chúa với đời sống, Đức Tin với đức chính trực, phụng tự với dấn thân xã hội. Đó là điều mà Chúa Giêsu nhiều lần nói đến, bắt đầu với lời cảnh cáo trong Bài Giảng Trên Núi: Không phải bất cứ người nào thưa với Thầy, ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ mà sẽ được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ người làm theo Thánh Ý của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời.(Mt 7:21). Câu này dường như vang lại lời Thiên Chúa trong Sách Isaia: “Dân này chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng chúng thì xa Ta lắm” (29:13). Những lời cảnh cáo như thế cũng liên quan tới các giáo hội khi họ không trung thành với việc lắng nghe Lời Chúa một cách vâng phục.

Cho nên điều này phải hữu hình và có thể đọc được trên khuôn mặt và bàn tay tín hữu, như đề nghị của Thánh Grêgôriô Cả là vị đã nhìn thấy Lời Chúa trở nên sống động nơi Thánh Bênêđictô và nhiều vĩ nhân khác của Thiên Chúa, là những chứng nhân của sự hiệp thông với Thiên Chúa và với anh chị em. Người công chính và trung tín không những “giải thích” Thánh Kinh, mà còn “mở” Sách ấy ra trước mặt mọi người như một thực tại sống động và được thực hành. Đó là lý do tại sao viva lectio, vita bonorum, đời sống của những người tốt lành là một bài đọc/bài học sống động về Lời Chúa. Thánh Gioan Kim Khẩu đã nhận xét rằng các Tông Đồ đã xuống từ ngọn núi ở Galilêa, là nơi các ngài được gặp Chúa Phục Sinh, không có các bia đá trên tay như ông Môsê đã có: nhưng cuộc đời các ngài đã trở thành Sách Tin Mừng sống động kể từ giây phút ấy.

Trong căn nhà Lời Chúa, chúng ta còn gặp anh chị em từ các Giáo Hội và cộng đồng giáo hội khác, là những người, dù vẫn còn bị chia cách, thấy rằng họ đang cùng chúng ta tôn kính và yêu mến Lời Chúa, là nguyên lý và nguồn mạch cùa một sự hợp nhất đầu tiên và chân thật, dù chưa phài là một sự hợp nhất trọn vẹn. Mối dây liên kết này phải luôn được củng cố nhờ những bản dịch Thánh Kinh chung, nhờ việc phổ biến các thánh văn, nhờ việc cầu nguyện đại kết bằng Thánh Kinh, nhờ các cuộc đối thoại về chú giải Thánh Kinh, nhờ việc nghiên cứu và so sánh giữa những cách giải thích Thánh Kinh khác nhau, nhờ việc trao đổi những giá trị cố hữu trong các truyền thống linh đạo khác nhau, và nhờ việc công bố cũng như cùng nhau làm chứng cho Lời Chúa trong một thế giới đang bị tục hóa.

IV. CON ĐƯỜNG CỦA LỜI CHÚA: TRUYỀN GIÁO

“Vì từ Xion, thánh luật ban xuống, từ Giêrusalem, lời Chúa phán truyền” (Is 2:3). Lời Chúa được hiện thân “phát ra” từ nhà Ngài, là đền thờ, và đi dọc theo những nẻo đường của thế giới để gặp cuộc hành hương vĩ đại mà dân trên thế gian đang thực hiện để tìm chân lý, công lý và hoà bình. Thực ra, ngay cả trong những đô thị bị tục hóa hiện đại, trong các công trường và đường phố của chúng – nơi mà sự thiếu đức tin và thờ ơ dường như đang ngự trị, nơi mà sự dữ dường như đang thắng sự tốt lành, tạo ra một cảm tưởng là Babylon đang thắng Giêrusalem -- người ta có thể tìm thấy một khát khao thầm kín, một hy vọng đang nảy mầm, một tiếng run ước vọng. Như chúng ta có thể đọc trong Sách ngôn sứ Amos: Đây sắp đến những ngày, Chúa là Thiên Chúa phán, Ta sẽ gieo nạn đói trên xứ này, không phải đói bánh ăn, cũng không phải khát nước uống, mà là đói khát được nghe Lời Chúa” (Am 8:11). Sứ vụ truyền giáo của Hội Thánh muốn thỏa mãn sự đói khát này.

 Ngay cả Đức Kitô Phục Sinh cũng kêu gọi các Tông Đồ đang ngần ngại hãy ra khỏi vùng an toàn của các ông: “Vậy các con hãy đi làm cho muôn dân thành môn đệ… và dạy họ giữ những điều Thấy đã truyền cho các con” (Mt 28:19-20). Thánh Kinh đầy những lời kêu gọi “đừng im tiếng”, “hãy nói lên”, “hãy rao giảng Lời Chúa lúc thuận tiện cũng như khi bất tiện”, hãy thành những người lính canh xé tan sự im lặng của thờ ơ. Những con đường đang được mở ra trước mặt chúng ta không những chỉ là những con đường mà Thánh Phaolô và các nhà truyền giáo đầu tiên đã đi nhưng cũng là những con đường mà tất cả các nhà truyền giáo sau các ngài đã đi đến các dân ở những vùng đất xa xôi.

11. Phương tiện truyền thông hiện nay trải một mạng bao trùm toàn thể địa cầu và lời kêu gọi của Đức Kitô đạt được một ý nghĩa mới: “Điều mà Thầy nói với các con trong đêm tối, hãy nói giữa ban ngày, điều các con nghe thì thầm, hãy rao giảng trên mái nhà” (Mt 10:27). Đương nhiên các lời thánh phải có được sáng sủa và phổ biến qua các ấn bản, với các bản dịch được dịch theo nhiều ngữ khác nhau trên hành tinh của chúng ta. Nhưng tiếng của Lời Chúa cũng phải vang vọng  ngay cả trên truyền thanh, xa lộ thông tin của mạng Internet, các đường kênh vi tính “on line”, CD, DVD, podcast, v.v…. Nó phải xuất hiện trên tất cả màn ảnh truyền hình và phim ảnh, trên báo chí, và trong những biến cố văn hóa xã hội.

 Hình thức truyền thông mới này, so sánh với cách truyền thông theo truyền thống, đã tạo ra văn phạm diễn tả riêng và đặc biệt của nó, cho nên, chúng ta cần phải chuẩn bị không những về kỹ thuật mà còn về văn hóa cho công tác này. Trong thời đại mà hình ảnh được đưa ra bởi các phương tiện truyền thông hàng đầu như truyền hình có ảnh hưởng rất lớn, mẫu gương có đặc quyền của Đức Kitô vẫn còn có ý nghĩa và gợi lên hôm nay. Người chắc đã dùng dấu hiệu, câu truyện, thí dụ, kinh nghiệm hằng ngày, dụ ngôn: “Người đã nói với họ nhiều điều bằng dụ ngôn… Quả thực, Người đã không bao giờ nói với họ mà không dùng dụ ngôn” (Mt 13:3; 34). Trong việc rao giảng Nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu không bao giờ nói những điều khó hiểu đối với dân chúng bằng một ngôn ngữ mập mờ, trừu tượng và siêu thực.Ngược lại, Người chinh phục họ bằng cách bắt đầu ở chỗ chân họ đang đứng để dẫn họ qua các biến cố hằng ngày đến việc mặc khải Nước Trời. Như thế cảnh tượng được Thánh Gioan nói đến trở nên quan trọng: “Một số người trong họ muốn bắt Người, nhưng không ai tra tay bắt Người. Các vệ binh trở về với các trưởng tế và Pharisiêu, và họ hỏi chúng, ‘Tại sao các ngươi không đem hắn về đây?’ Các vệ binh trả lời, ‘Chưa bao giờ có ai nói như người này!’” (Ga 7:44-46).

Đức Kitô vẫn tiếp tục rảo bước dọc theo các đường phố của các thành thị của chúng ta và ngừng lại ở ngưỡng cửa nhà chúng ta: “Này, Ta đứng trước cửa và gõ, nếu ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ ăn tối bên cạnh người ấy” (Kh 3:20). Gia đình được đóng khung trong bốn bức tường với những niềm vui và đau khổ của nó, chính là nơi căn bản để Lời Chúa được phép đi vào. Thánh Kinh đầy những câu truyện về gia đình lớn nhỏ, và tác giả Thánh Vịnh phác họa cách sống động hình ảnh thanh thản của một người cha ngôi cạnh cái bàn được vây quanh bởi vợ như “một cây nho sai trái” và con cái tựa “những cành ôliu vừa chớm mọc” (Tv 128). Cũng thế, Chính Kitô giáo, ngay từ thủa ban đầu, đã cử hành phụng vụ trong đời sống hằng ngày tại gia, cũng như dân Israel trao việc cử hành Lễ Vượt Qua cho gia đình (x. Xh -27). Việc truyền bá Lời Chúa được truyền lại qua các thế hệ đến nỗi cha mẹ trở thành “người giảng dạy đầu tiên về Đức Tin” (LG 11). Một lần nữa tác giả Thánh Vịnh lại nhắc nhở rằng: Điều chúng tôi đã từng nghe biết do cha ông kể lại cho mình, “chúng tôi chẳng giấu gì con cháu cả, sẽ tường thuật cho thế hệ mai sau: sự nghiệp lẫy lừng, quyền uy của Chúa, với những kỳ công Chúa đã làm..., rồi mai ngày đến lượt kể cho con cháu mình” (Tv 78:3-4,6).

Vì thế, mỗi nhà phải có Sách Thánh Kinh riêng của mình và gìn giữ sách ấy ở một nơi dễ thấy và cách tôn kính, để đọc và cầu nguyện bằng sách ấy, đồng thời gia đình cũng đề ra những hình thức và kiểu mẫu giáo dục cầu nguyện, học Giáo Lý và mô phạm để dạy về cách dùng Thánh Kinh như thế nào để “các thanh thiếu nữ, và các người già cùng người trẻ” (Tv 148:12) được nghe, hiểu, làm vinh danh và sống Lời Chúa. Đặc biệt là các thế hệ mới, trẻ em và giới trẻ, phải là những người nhận được sự giáo dục thích hợp và rõ ràng để đưa các em đến việc cảm nghiệm được sự hấp dẫn của dung mạo Đức Kitô, qua việc mở cửa trí khôn và tâm hồn các em, cũng như qua việc gặp gỡ với và làm nhân chứng của những người trưởng thành, ảnh hưởng của bạn bè và một đoàn ngũ lớn lao của cộng đồng giáo hội.

13. Chúa Giêsu trong dụ ngôn Người Gieo Giống nhắc nhở chúng ta rằng có những thửa đất khô cằn, đầy đá sỏi, bị gai góc làm ngẹt thở (x. Mt 13:3-7). Ai là người đi vào những nẻo đường của thế gian cũng khám phá ra những xóm nhà lá mà ở đó người ta có thể tìm thấy đau khổ và ngheo đói, ô nhục và áp bức, kỳ thị và cực khổ, bệnh tật thể xác và tâm thần, cùng cô đơn. Thường thì những hòn đá trên đường bị nhuốm máu vì chiến tranh và bạo động; trong các cung điện của những người quyền thế, tham nhũng và bất công gặp nhau.Tiếng kêu của những người bị bách hại vì trung thành với tiếng lương tâm và Đức Tin của họ vang lên.

Có người bị những khủng hoảng trong cuộc đời đưa đẩy, hoặc tâm hồn họ bị mất đi ý thức, là điều làm cho đời chính sống có ý nghĩa và giá trị. Giống như “những bóng ma đi qua, những theo đuổi của họ chỉ như làn gió thoảng” (Tv 39:7), nhiều người cảm thấy khó chịu vì sự yên lặng của Thiên Chúa, vì việc Ngài dường như vắng mặt và thờ ơ: “Lạy Chúa, Ngài quên con mãi tới bao giờ? Tới bao giờ còn ngoảnh mặt làm ngơ?”(Tv 13:1). Và cuối cùng là mầu nhiệm sự chết xảy ra cho mọi người.

 Tiếng thở than u oán mênh mông này từ đất vang lên thấu trời được trình bày liên tục trong Thánh Kinh, là điều đề ra một niềm tin lịch sử và nhập thể. Chỉ nghĩ đến những trang  được đánh dấu bởi bạo động và áp bức, đến tiếng than van não nùng và liên tục của ông Gióp, và những lời cầu xin thiết tha của Thánh Vịnh, đến những khủng hoảng nội tâm tinh tế trong linh hồn của Côhơlét [Sách Giảng Viên], đến những lời tố giác mạnh mẽ của các ngôn sứ chống lại những bất công xã hội cũng đủ. Như vậy, chính việc không bào chữa [làm giảm tội] cho hoàn cảnh là lời kết án tội lỗi gốc, là tội lỗi xuất hiện với toàn lực công phá của nó ngay từ buổi đầu của nhân loại trong bản văn căn bản của Sách Sáng Thế Ký (Chương 3). Thực ra, “mầu nhiệm bất công” hiện diện và hoành hành trong lịch sử, nhưng chúng ta được mặc khải qua Lời Chúa, là Lời bảo đảm rằng sự thiện sẽ thắng sự dữ trong Đức Kitô.

 Nhưng trên hết, trong Thánh Kinh, dung mạo của Đức Kitô, là Đấng bắt đầu cuộc đời công khai của Người bằng một lời công bố về hy vọng cho những người thấp hèn nhất ở trần gian: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc -19). Người đã nhiều lần đặt tay trên các thân xác đau yếu và bệnh tật. Lời Người rao giảng công lý, truyền thông can đảm cho những người hèn nhát và ban ơn tha thứ cho những người tội lỗi. Cuối cùng, chính Người đã đi đến mức độ thấp hèn nhất, “Người đã trút bỏ chính Mình” khỏi vinh quang, “mặc lấy hình dạng một tên nô lệ, trở nên giống người phàm, giống người phàm trong mọi sự, nhưng Người còn hạ mình hơn nữa, đến nỗi chấp nhận cái chết, chết trên thập giá” (Phil 2:7-8).

Bằng cách này Người cảm thấy sợ chết (Người đã thưa “Lạy Cha, ‘nếu đẹp lòng Cha, xin cất chén đắng này khỏi Con’”), Người cảm nghiệm được sự cô đơn bởi vì Người bị bạn hữu bỏ rơi và phản bội, Người thấu hiểu sự đen tối của đau đớn thể xác tàn bạo nhất qua việc Người bị đóng đinh và ngay cả sự tăm tối về việc im lặng của Chúa Cha (“Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài nỡ bỏ rơi Con?”)(Mc 15:34) và đi đến vực thẳm cuối cùng của mọi người, là vực thẳm của sự chết (“Người kêu lên một tiếng lớn và trút hơi thở cuối cùng”). Định nghĩa của ngôn sứ Isaia về người tôi tớ của Chúa thực sự được áp dụng cho Người: “thấp hèn nhất giữa loài người, một người khổ sầu” (53:3).

Vậy mà ngay cả trong giây phút cùng cực ấy, Người cũng không ngừng là Con Thiên Chúa: trong sự liên đới bằng tình yêu và với sự tự hiến, Người gieo hạt giống Thiên Tính vào trong sự giới hạn và mỏng dòn của nhân tính, nói cách khác, một nguyên lý tự do và cứu độ. Bằng việc hiến tế chính Mình Người vì chúng ta, Người đã đổ ơn cứu độ xuống trên đau khổ và sự chết, là những điều được Người nhận lấy và sống, cùng mở cho chúng ta rạng đông của sự sống lại. Cho nên Kitô hữu có sứ vụ công bố Lời hy vọng này của Thiên Chúa, bằng cách chia sẻ với những người nghèo đói và đau khổ, qua việc làm chứng cho Đức Tin vào Nước chân lý và sự sống, thánh thiên và ân sủng, công lý, bác ái và bình an của mình, qua tình yêu thương gần gũi là tình yêu không phê phán hay kết tội, nhưng nâng đỡ, soi sáng, an ủi và tha thứ, theo Lời Đức Kitô: “Hãy đến cùng Ta, tất cả những ai lao nhọc va gồng gánh nặng nề, và Ta sẽ cho các người nghỉ ngơi” (Mt 11:28).

14. Dọc theo những nẻo đường thế gian, Lời Chúa phát sinh cho chúng ta, những Kitô hữu, một cuộc gặp gỡ cũng thân tình tương tự với dân Do Thái, là những người có liên hệ mật thiết với chúng ta qua việc cùng chấp nhận và yêu mến Thánh Kinh Cựu Ước, và bởi vì từ Israel “Đức Kitô, xét theo huyết thống cũng đồng chủng với họ” (Rm 9:5). Mọi trang Thánh Kinh của người Do Thái đều soi sáng mầu nhiệm của Thiên Chúa và của loài người. Các trang sách này là kho tàng suy niệm và luân lý, một nét phác họa của của cuộc hành trình của lịch sử cứu độ đi đến lúc hoàn thành trọn vẹn, và minh họa cách mạnh mẽ việc nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa trong các biến cố của nhân loại. Chúng cho phép chúng ta hiểu cách đầy đủ dung mạo Đức Kitô, là Đấng đã công bố “Ðừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Lề Luật hay lời các ngôn sứ.  Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để làm cho chúng nên hoàn hảo” (Mt ).

 Đây là một cách để đối thoại với dân được tuyển chọn, “là những người được nhận làm dưỡng tử, vinh dự và giao ước là của họ, việc ban bố Lề Luật, phụng tự và các lời hứa cũng được ban cho họ” (Rm 9:4), và chúng cho phép chúng ta phong phú hóa cách chúng ta giải thích Thánh Kinh với những phương thức thành công của truyền thống chú giải Thánh Kinh Hipri.

"Phúc cho Ai cập, dân của Ta, cho Assyria, công trình Ta tạo ra, và cho Israel, cơ nghiệp của Ta" (Is 19:25). Như thế, Chúa trải rộng tà áo bảo vệ của phúc lành Ngài trên khắp mọi dân tộc trên thế gian: “Ngài muốn mọi người được cứu độ và đi đến sự hiểu biết hoàn toàn về chân lý” (1 Tm 2:4). Chúng ta là những Kitô hữu cũng được mời gọi, trên những nẻo đường của thế gian – không rơi vào chủ nghĩa hỗn hợp là chủ nghĩa làm lu mờ và hạ nhục căn tính tâm linh của chúng ta - để đi đối thoại cách kính trọng với các anh chị em thuộc các tôn giáo khác, là những người trung thành nghe theo và thực hành những hướng dẫn trong các sách thánh của họ, bắt đầu từ Hồi Giáo, là tôn giáo đón nhận nhiều khuôn mặt, biểu tượng, đề tài và truyền thống trong Thánh Kinh, và làm chứng cho một đức tin chân thành vào một Thiên Chúa duy nhất, từ bi, giàu lòng thương xót, là Đấng Tạo Hóa của tất cả và Thẩm Phán của nhân loại.

Kitô hữu cũng tìm thấy sự hòa hợp chung với các truyền thống tôn giáo vĩ đại của Đông Phương, là những tôn giáo dạy chúng ta, trong các Sách Thánh của họ, tôn trọng sự sống, chiêm niệm, yên lặng, đơn giản, bỏ mình, như trong Phật giáo. Hay là như trong Ấn Độ giáo, người ta đề cao ý thức về sự thánh thiêng, hy sinh, hành hương, ăn chay, và các biểu tượng thánh. Hoặc trong Khổng giáo, người ta dạy về sự khôn ngoan cùng các giá trị gia đình và xã hội. Ngay cả các tôn giáo truyền thống  với những giá trị tinh thần được diễn tả qua các nghi lễ và các văn hóa khẩu truyền, chúng ta cũng muốn thân mật chú ý đến và đối thoại với họ một cách kính trọng. Cả với những người không tin vào Thiên Chúa nhưng cố gắng “làm ngững điều phải, yêu sự tốt lành và sống khiêm nhường” (Mi 6:8), chúng ta phải làm việc với họ để cho có một thế giới công bằng và hoà bình hơn, cùng cống hiến cho họ trong khi đối thoại chứng từ chân thật của chúng ta cho Lời Chúa để có thể tỏ ra cho họ những chân trời mới và cao quý hơn của chân lý và tình yêu.

15. Trong Thư gửi cho các Nghệ Sĩ (1999), ĐTC Gioan Phaolô II đã nhắc lại rằng “Thánh Kinh như thế đã trở thành một thứ ‘ngữ vựng bao la’ (Paul Claudel) và ‘bản đồ được mô tả bằng hình tượng’ (Marc Chagall), mà cả hai văn hóa Kitô giáo và nghê thuật đều rút ra từ đó” (số 5). Goethe xác tín rằng Tin Mừng là “tiếng mẹ đẻ của Âu Châu”.Thánh Kinh, như người ta thường nói, là ‘mật mã vĩ đại” của nền văn hóa hoàn vũ: các nghệ sĩ nhúng cọ của họ một cách lý tưởng vào mẫu tự được sơn bằng những câu truyện, biểu tượng, và những khuôn mặt là những trang Thánh Kinh. Các nhạc sĩ soạn các bản hòa âm của họ xoay quanh các bản văn thánh, đặc biệt là Thánh Vịnh. Qua nhiều kỷ nguyên, các tác giả trở lại những truyện cũ ấy là những truyện đã trở thành dụ ngôn của sự sống; các thi sĩ tự hỏi về những bí nhiệm của thần linh, sự vô cùng, sự dữ, tình yêu, sự chết và sự sống, thường sưu tầm những rung động thi vị làm dậy men các trang Thánh Kinh. Các tư tưởng gia, những người học rộng và chính xã hội thường dùng những quan niệm về tinh thần và đạo đức của Lời Chúa (thí dụ như Thập Giới) để tham khảo, cả trong trường hợp họ chỉ muốn tương phản. Ngay cả khi nhân vật hoặc tư tưởng trong Thánh Kinh bị bóp méo, nó vẫn được nhìn nhận như một yếu tố chủ yếu và cơ bản của nền văn minh của chúng ta.

Vì lý do đó mà Thánh Kinh cũng dạy chúng ta via pulchritudinis, nghĩa là con đường hoàn mỹ để hiểu biết và đến cùng Thiên Chúa (như Tv 47:7 mời gọi chúng ta: “Hãy học âm nhạc, hãy để nó vang lên cho Thiên Chúa!”) - là điều cần thiết không những chỉ cho các tín hữu mà còn cho tất cả mọi người để tái khám phá ra ý nghĩa thật của những cách diễn tả khác nhau về văn hóa, và trên hết để một lần nữa tìm lại căn tính lịch sử, dân sự, nhân bản và thiêng liêng của chúng ta. Đó là nguồn gốc của của sự cao quý của chúng ta, và qua đó chúng ta có thể tự giới thiệu mình cùng gia sản quý giá của mình cho những nền văn minh và văn hóa khác, mà không mặc cảm. Như thế, mọi người phải biết và học hỏi Thánh Kinh, dưới nét phi thường này của thẩm mỹ cùng sự phong phú về nhân bản và văn hóa.

 Tuy nhiên, Lời Chúa – qua một hình ảnh đầy ý nghĩa của Thánh Phaolô – “không thể bị xiềng xích” (2 Tm 2:9) vào một nền văn hóa; ngược lại, Lời Chúa tha thiết vượt qua mọi ranh giới, và chính Thánh Tông Đồ là một người thợ thủ công phi thường trong việc hội nhập sứ điệp Thánh Kinh vào những quan hệ mới về văn hóa. Đây là điều mà Hội Thánh đang được mời gọi để thực hiện ngay cả hôm nay qua một tiến trình tế nhị nhưng cần thiết, là tiến trình được Huấn Quyền của ĐTC Bênêđictô XVI mạnh mẽ thúc đẩy. Hội Thánh phải làm cho Lời Chúa thấm nhuần vào nhiều nền văn hóa và diễn tả Lời Chúa theo các ngôn ngữ, quan niệm, biểu tượng và những truyền thống tôn giáo của các nền văn hóa ấy. Nhưng Hội Thánh cũng phải luôn duy trì bản chất thật sự của nội dung Lời Chúa, bằng cách canh chừng và kiểm soát những nguy cơ của việc thoái hoá.

Cho nên Hội Thánh phải làm cho các giá trị mà Lời Chúa cống hiến cho tất cả các nền văn hóa được chiếu sáng, để các nền văn hóa ấy được thanh luyện và sinh hoa kết quả. Như ĐTC Gioan Phaolô II đã nói với các Giám Mục Kenya trong chuyến tông du Phi Châu của ngài năm 1980: “Việc hội nhập văn hóa sẽ thật sự phản ảnh việc Nhập Thể của Ngôi Lời, khi một nền văn hóa, được biến đổi và tái sinh bởi Tin Mừng, sinh ra từ chính truyền thống sống động của nó những cách diễn tả độc đáo về đời sống, việc cử hành và tư tưởng Kitô giáo”.

KẾT LUẬN

 “Rồi tôi nghe tiếng mà tôi đã nghe từ trời, nói với tôi một lần nữa rằng, ‘Hãy đi và lấy cuốn sách nhỏ được mở sẵn trong tay vị thiên sứ đang đứng trên biển và đất’. Nên tôi đến cùng vị thiên sứ, và xin vị ấy cho tôi cuốn sách nhỏ. Vị ấy bảo tôi, ‘Hãy cầm lấy nó mà ăn! Nó sẽ làm đắng bụng ngươi, nhưng nó sẽ ngọt như mật ong trong miệng ngươi’. Tôi lấy cuốn sách nhỏ khỏi tay thiên sứ và ăn nó. Trong miệng tôi nó ngọt như mật ong, nhưng ngay khi tôi ăn xong, thì bụng tôi nên cay đắng” (Kh 10:8-10).

Kính thưa quý anh chị em trên toàn thế giới, chúng ta hãy đón nhận lời mời này; chúng ta hãy đến gần bàn tiệc Lời Chúa, để được nuôi dưỡng và được sống “không phải chỉ bằng bánh mà còn bằng mọi Lời từ miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8:3; Mt 4:4). Thánh Kinh – như đã được những khuôn mặt đại của nền văn hóa Kitô giáo xác nhận – “đã cung cấp nhiều đoạn an ủi và cảnh cáo cho mọi hoàn cảnh” (B. Pascal, Pensées, số 532 nxb Brunschvicg).

Thật vậy, Lời Chúa “ngọt ngào hơn mật, dù mật nhỏ ra tận tổ ong” (Tv), “Lời Ngài như ngọn đèn soi bước chân con, như ánh sáng soi đường con đi” (Tv 119:105), nhưng Lời ấy cũng “như lửa, Chúa phán, như búa đập tan đá tảng” (Ger ). Lời Chúa như mưa tưới mặt đất, bồi bón nó và làm cho nó nảy sinh, và cũng làm cho đất cằn cỗi của hoang địa tinh thần của chúng ta trổ bông (x.Is 55:10-11). Nhưng cũng là “một điều gì sống động, linh nghiệm và sắc bén hơn gươm hai lưỡi, xuyên qua giữa linh hồn và thần trí; gân và tủy, và có thể phân biệt các toan tính và suy tư của lòng người” (Dt).

Chúng tôi âu yếm hướng mắt về phía tất cả những ai đang tham gia học hỏi, các Giáo Lý viên, và những tôi tớ khác của Lời Chúa để tỏ bày lòng biết ơn sâu xa và thân ái nhất đối với thừa tác vụ quý hóa và quan trọng của họ. Chúng tôi cũng nói với các anh chị em đang bị bách hại hay những người đang phải chết vì Lời Chúa và vì việc làm chứng mà họ dành cho Chúa Giêsu (x. Kh 6:9): như những chứng nhân và tử vì đạo họ nói cho chúng ta về “quyền năng của Lời Chúa” (Rm 1:16), nguồn gốc của Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến mà họ dành cho Thiên Chúa và cho loài người.

Bây giờ chúng ta hãy tiếp tục im lặng để lắng nghe Lời Chúa một cách hiệu quả và hãy giữ sự im lặng này sau khi lắng nghe, để Lời Chúa tiếp tục ở trong chúng ta, sống trong chúng ta, và nói với chúng ta.Hãy để Lời Chúa vang lên khi bắt đầu ngày của chúng ta để Thiên Chúa nói Lời đầu tiên và để Lời ấy vang vọng trong chúng ta đến buổi chiều để cho Thiên Chúa nói Lời cuối cùng.

 Anh chị em thân mến, “Tất cả mọi người ở với tôi gửi lời thăm con. Chào những người yêu thương chúng ta trong đức tin. Nguyện xin ân sủng ở cùng tất cả anh chị em” (Tt )

Phaolô Phạm Xuân Khôi

Dịch theo bản Tiếng Anh của Zenit.org cùng một số sửa chữa nhỏ theo bản chính bằng Tiếng Ý.

---------------------------------------------

 [1]Bản tiếng Anh dịch là ‘life’, nhưng tiếng Ý là ‘amore’ nên dịch là ’tình yêu’ ở đây.




Tin liên quan:
Bài 9 – Lời Chúa trong Gia Đình [06.03.2009 16:41]
Bài 8 - Các Nghĩa của Thánh Kinh - Phần 2 [06.03.2009 16:34]
Bài 7 - Các Nghĩa của Thánh Kinh - Phần 1 [06.03.2009 16:29]
Bài 6 - Thánh Kinh và việc Dạy Giáo Lý [06.03.2009 16:24]
Bài 5 - Lời Chúa trong đời sống Kitô hữu [06.03.2009 16:20]
Bài 4 - Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Vụ Hội Thánh [06.03.2009 16:16]
Bài 3 - Thánh Kinh [06.03.2009 16:08]
Bài 2 - Mặc Khải của Thiên Chúa [06.03.2009 16:03]
Bài 1 - Lời Chúa là Gì? [06.03.2009 15:55]
Sứ Điệp Kết Thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục về Lời Chúa [30.10.2008 17:43]


 Bản để in  Lưu dạng file


Những bản tin khác:
Bài 3 - Thánh Kinh [06.03.2009 16:08]



Lên đầu trang

 TRANG ĐẶC BIỆT 
*

Mừng Năm Thánh 2010

* Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Vụ Hội Thánh
* Kết Quả Đại Hội Giáo Lý Toàn Quốc (HK) X
* Đại Hội Giáo Lý Toàn Quốc (HK) Lần Thứ X
* Lời Chúa Mỗi Ngày
*

Trang Thánh Phaolô

 CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG 

CHÚA NHẬT XXIII TN-C

* Bài Đọc Chúa Nhật XXIII Thường Niên - Năm C
* Chú giải Tin Mừng Chúa Nhật XXIII Thường Niên - Năm C
* Suy Niệm về các Bài Đọc Chúa Nhật XXIII Thường Niên - Năm C
* Làm Môn Đệ của Chúa
* Giả Vờ Yêu
* Niềm Tín Thác vào Chúa
* Con Đường Theo Chúa
* Từ Bỏ Hết Là Gì?
* Làm Môn Đệ Chúa: Dễ Hay Khó?
* Hãy Tiến Đến Lãnh Nhận Lương Thực Khôn Ngoan
* Ai Xứng Đáng Làm Môn Đệ Chúa Giêsu?
* Lột Xác Để Trưởng Thành
* Điều Kiện Theo Chúa
* Từ Bỏ Trên Con Đường Theo Chúa

 CÁC KHÓA EPHATA 

Chươnng trình tĩnh tâm Ephata dành cho thiếu niên Việt Nam tuổi Thêm Sức tại Hoa Kỳ

 Thư Mục Giáo Lý 

  Sách Giáo Lý bằng song ngữ  - Nhà xuất bàn Đức Kitô Nguồn Sống

 Tủ Sách GLV 
Thánh Kinh
* Thánh Kinh - Bản Dịch của Nhóm Giờ Kinh Phụng Vụ
* Lời Chúa Trong Đời Sống Hội Thánh
* Đường Vào Tân Ước
* Hướng Dẫn Giải Thích Thánh Kinh theo Công Giáo
Giáo Lý
* GLCG - Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo
* Toát Yếu Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo
* Giáo Lý Công Giáo Việt Nam Dành cho Giáo Lý Viên và Người Trưởng Thành
* Ý Nghĩa của Ki-tô Giáo (The Meaning of Christianity)
* Giáo Lý Yếu Lược
* Tông Huấn CATECHESI TRADENDAE về Dạy Giáo Lý Trong Thời Đại Chúng Ta
* Tóm Lược và Giải Thích Sách Chỉ Nam về Dạy Giáo Lý
Linh Đạo
* Đường Hy Vọng
* Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá
Sư Phạm Giáo Lý
* Sư Phạm Giáo Lý Căn Bản
* Nghệ Thuật Dạy về Ðức Tin
Website của Ủy Ban Giáo Lý Việt Nam tại Hoa Kỳ
Email: unafides@gmail.com
Copyright © 2006 by Uy Ban Giao Lý